Thứ Tư, 26 tháng 8, 2015

Lai Châu hoàn thành mục tiêu cấp điện lưới quốc gia cho 100% số xã

Ngày 6-8, tại huyện Nậm Nhùn (tỉnh Lai Châu), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tổng Công ty Điện lực Miền Bắc (EVN NPC) và UBND tỉnh Lai Châu đã tổ chức Lễ Mừng công hoàn thành mục tiêu cấp điện lưới Quốc gia cho 100% số xã của tỉnh Lai Châu.
 
Từ năm 2004 đến nay, để đáp ứng nhu cầu sử dụng điện của nhân dân và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Lai Châu, Công ty Điện lực Lai Châu đã triển khai thực hiện đầu tư xây dựng nhiều dự án phát triển và mở rộng lưới điện nông thôn trên địa bàn, bằng nhiều nguồn vốn khác nhau. Theo đó, đã xây dựng mới 1.378 km đường dây trung áp; 1.120,3 km đường dây hạ áp; 682 trạm biến áp; Cấp điện mới cho 37.430 hộ dân với tổng mức đầu tư 1.412,2 tỷ đồng (trong đó nguồn vốn địa phương làm chủ đầu tư 218,2 tỷ đồng).
 
Đến nay, Công ty điện lực Lai Châu đã thực hiện cấp điện lưới Quốc gia cho 108/108 xã, phường, thị trấn đạt tỷ lệ 100%, số hộ có điện đạt trên 84%. Trong đó, các Dự án do Ngành điện thực hiện đầu tư bằng nguồn vốn vay, gồm: Dự án Năng lượng nông thôn  WB 1.3; Dự án Năng lượng nông thôn II (REII); Dự án Năng lượng nông thôn II tài trợ bổ sung đợt 4- vay vốn WB; Dự án phát triển năng lượng tái tạo và mở rộng cải  tạo lưới điện nông thôn vùng sâu, vùng xa tỉnh Lai Châu – vay vốn ADB; Dự án phát triển năng lượng tái tạo và mở rộng cải  tạo lưới điện nông thôn vùng sâu, vùng xa tỉnh Lai Châu- vay vốn ADB (giai đoạn 2 - phần vốn dư); Dự án phân phối hiệu quả giai đoạn 2 (DEP2) vay vốn WB; Dự án cấp điện cho các thôn, bản chưa có điện tỉnh Lai Châu, cấp điện lưới Quốc gia.
 

Công nhân Công ty Điện lực Lai Châu (Tổng Công Điện lực miền Bắc) kiểm tra, vận hành cấp điện cho người dân huyện Nậm Nhùn. Ảnh: Ngọc Hà/Icon.com.vn
 
Ngoài các dự án vay vốn ODA, trong thời gian từ năm 2004 đến nay, EVN NPC đã thực hiện đầu tư khoảng 200 công trình cải tạo nâng cấp chống quá tải lưới điện với tổng vốn đầu tư khoảng trên 300 tỷ đồng.
 
Bên cạnh đó, các dự án do (UBND tỉnh, UBND các huyện) làm chủ đầu tư cũng được hoàn thành, như:  Dự án REII gốc (phần hạ thế), Dự án REII (phần hạ thế mở rộng), Dự án JBIC, Dự án cấp điện cho các khu, điểm TĐC các nhà máy thuỷ điện.
 
Khi chia tách thành lập lại tỉnh Lai Châu năm 2004 số xã có điện mới đạt 37,3 %, số hộ sử dụng điện đạt 29,4%. Nhưng đến hết tháng 6-2015 đã có 108 xã, 74.146 hộ dân (tăng thêm 23 xã, 6.094 hộ dân) có điện, do đó đã nâng tỷ lệ số xã có điện từ 78,7% lên 100% và số hộ từ 78,8% lên 84,8%.
 
Theo kế hoạch, sau khi dự án “Cấp điện cho các thôn bản chưa có điện tỉnh Lai Châu” được bố trí vốn NSNN kịp thời dự kiến đến hết năm 2016 hoàn thành đưa vào sử dụng sẽ đưa tỷ lệ số hộ dân được sử dụng điện trên địa bàn toàn tỉnh từ 84,8% hiện nay lên 92,4%.
 
Công nhân Công ty Điện lực Lai Châu (Tổng Công Điện lực miền Bắc) tuyên truyền sử dụng điện an toàn và tiết kiệm cho bà con dân tộc Thái  ở huyện Nậm Nhùn. Ảnh: Ngọc Hà/Icon.com.vn
Việc đầu tư, nâng cấp hệ thống lưới điện khu vực nông thôn của Lai Châu đã đáp ứng cơ bản nhu cầu sử dụng điện của nhân dân, phát triển các ngành nghề  công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, xây dựng…góp phần to lớn vào kết quả phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lai Châu trong hơn 10 năm qua, với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trên 13%/năm. Thu ngân sách trên địa bàn các năm đều vượt kế hoạch (năm 2014 thu ngân sách 780 tỷ đồng, tăng hơn 20 lần so với năm 2004). Đồng thời tác động trực tiếp đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông nghiệp, người dân có thể yên tâm đầu tư máy móc chế biến, phát triển sản xuất các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, tăng thu nhập cho gia đình, xoá đói, giảm nghèo bền vững do đó đã góp phần to lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn. Đặc biệt là phát triển kinh tế theo định hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn, gắn với thực hiện Chương trình nông thôn mới mà Đảng, Nhà nước, Chính phủ đang lãnh đạo chỉ đạo thực hiện. Sản xuất lương thực toàn tỉnh Lai Châu tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh: năm 2004 tỷ lệ hộ nghèo là 60,75%, đến hết năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo còn 23,48% (theo tiêu chí mới). Thực hiện tốt công tác chăm sóc, bảo vệ rừng, nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 44,3% năm 2014.

"Tiết kiệm điện không chỉ đơn giản là thay bóng đèn"

Tiết kiệm điện không đơn giản chỉ là thay bóng đèn tiết kiệm điện, động cơ hiệu suất cao......” - Đó là chia sẻ của ông Đỗ Nguyên Hưng, Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH Schneider Electric Việt Nam – doanh nghiệp cung cấp thiết bị và các giải pháp quản lý, tiết kiệm năng lượng.

Phóng viên (PV): Thưa ông, ông đánh giá thế nào về thực trạng sử dụng năng lượng ở Việt Nam hiện nay?

Ông Đỗ Nguyên Hưng: Hiện vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp sử dụng thiết bị lạc hậu, hiệu suất thấp, đặc biệt là các ngành: Than, Xi măng, Thép... Bên cạnh đó, ý thức tiết kiệm điện của người dân cũng chưa cao.

Báo cáo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho thấy, năm 2014, hệ số đàn hồi điện/GDP là 2,03. Nếu so sánh con số này với các nước trong khu vực (bình quân 1,6) sẽ thấy việc sử dụng điện ở Việt Nam còn lãng phí. Nếu mỗi năm chúng ta dự kiến tăng GDP 6% thì sản lượng điện phải tăng hơn 12% kéo theo nhu cầu đầu tư lớn, rất khó khăn về nguồn và lưới điện. Do đó, tiết kiệm năng lượng (TKNL) là yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
PV: Trước thực trạng lãng phí điện năng, các thiết bị, dịch vụ quản lý điện năng được xem là một trong những công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc TKNL hiệu quả. Theo ông, việc cung cấp thiết bị, dịch vụ quản lý điện năng tại Việt Nam hiện đã đáp ứng được nhu cầu của khách hàng?

Ông Đỗ Nguyên Hưng: Hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực quản lý năng lượng hàng đầu thế giới đã có mặt tại Việt Nam. Bên cạnh đó, các công ty trong nước cũng đã tiếp cận được công nghệ và đủ khả năng tích hợp, cung cấp các dịch vụ, phần mềm quản lý năng lượng.

Có thể nói, thị trường các thiết bị, giải pháp quản lý năng lượng đang rất cạnh tranh và sôi động; trong đó, nhiều giải pháp có thể phát triển mạnh như: Hệ thống giám sát năng lượng, phần mềm quản lý năng lượng, hệ thống phát điện dùng nhiệt thừa, hệ thống quản lý tòa nhà thông minh, dịch vụ kiểm toán năng lượng...
PV: Nguồn cung sôi động như vậy, nhưng khách hàng đã đón nhận và ứng dụng chưa, thưa ông?

Ông Đỗ Nguyên Hưng: Những năm qua, Chính phủ Việt Nam rất quan tâm, có nhiều quyết sách về TKNL. Tuy nhiên, do việc giám sát, sự phối hợp giữa cơ quan trung ương và địa phương chưa được tốt; các biện pháp xử phạt chưa đủ tính răn đe và thiếu đồng bộ; cơ chế hỗ trợ chưa hấp dẫn... nên nhiều doanh nghiệp chưa mặn mà đầu tư các giải pháp TKNL. Vẫn còn doanh nghiệp tiến hành TKNL theo hình thức để đối phó với các cơ quan chức năng. Ví dụ, có doanh nghiệp chỉ kiểm toán năng lượng (3 năm/lần) theo đúng quy định trong Luật  Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thôi.

Ý thức sử dụng năng lượng tiết kiệm của người dân và chủ doanh nghiệp còn hạn chế; còn thiếu thông tin về thiết bị có hiệu suất năng lượng cao, thiếu nghiệp vụ trong đánh giá và theo dõi dự án TKNL.

Đáng nói, giá điện trong nước còn thấp cũng không khuyến khích doanh nghiệp đầu tư các hệ thống/thiết bị quản lý điện năng.

PV: Theo ông, vốn có phải là vấn đề quan trọng nhất khiến các doanh nghiệp không mặn mà với các thiết bị, dịch vụ quản lý năng lượng?

Ông Đỗ Nguyên Hưng: Vốn luôn là vấn đề cần phải giải quyết khi đầu tư các thiết bị, hệ thống giám sát, quản lý năng lượng. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất chính là nhận thức của doanh nghiệp.

TKNL đồng nghĩa với việc giảm sự lãng phí, làm tăng lợi nhuận, tăng tính cạnh tranh cho doanh nghiệp. Ở mức độ nào đó, doanh nghiệp nên xem các dự án TKNL cũng như các dự án đầu tư kinh doanh khác, với thời gian thu hồi vốn từ 2-3 năm. Đầu tư vốn cho một ý tưởng kinh doanh mới chưa chắc đã thành công nhưng đầu tư cho dự án tiết kiệm điện có thể tính khá chính xác thời gian thu hồi vốn...

PV: Vậy ông có lời khuyên nào cho doanh nghiệp khi sử dụng điện?

Ông Đỗ Nguyên Hưng: Tiết kiệm điện không đơn giản chỉ là thay bóng đèn tiết kiệm điện, động cơ hiệu suất cao... mà là tổng hợp những biện pháp lâu dài, từ việc chuyển đổi hành vi cho đến việc giám sát lượng điện năng tiêu thụ, các giải pháp công nghệ...

Tiết kiệm điện phải được tiến hành song song với việc phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Các giải pháp phần mềm giám sát quản lý điện năng, tự động hóa quá trình sản xuất là yếu tố vô cùng quan trọng, giúp các doanh nghiệp đạt được mục tiêu về TKNL.

(evn.com.vn)